[SÁCH NÓI] Kỹ Năng Giao Tiếp Đỉnh Cao | Lý Tử Quyên
Chiếc áo sườn sám hoa đào

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyến Thị Xinh
Ngày gửi: 17h:59' 30-11-2025
Dung lượng: 669.5 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyến Thị Xinh
Ngày gửi: 17h:59' 30-11-2025
Dung lượng: 669.5 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
... Sừng sững một tòa ngôn ngữ chân chất, tinh diệu…
Đồng chí Hùng Vương
Tào Lường
Du kích huyện
Đi dân công
Xuống làng
Cứu đất cứu mường
Vợ chồng A Phủ
Vượt Tây Côn Lĩnh
Mùa hái bông
Thào Mỵ kể chuyện đời mình
Sầm Sơn
Chiếc áo “xường xám” màu hoa đào
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
... Sừng sững một tòa ngôn ngữ chân chất, tinh
diệu…
(Thay lời giới thiệu)
Trong tập tùy bút Thăm thẳm bóng người của Đỗ Chu, Nguyễn Tuân, Tô Hoài được tác giả
giới thiệu bằng cảm hứng và lời văn trác tuyệt. Trong thăm thẳm bóng người có bóng ta. Có
thăm thẳm bóng Nguyễn Tuân trong những kiệt tác ông để lại cho đời. Tô Hoài còn đấy, “ đứng
chống đòn gánh, dưới chân là hai quang sách nặng ”, bóng của hàng triệu độc giả hòa vào bóng
Tô Hoài trong những tác phẩm bất hủ của ông. Trước “cốt kiêu” và uy bút lực của hai ông, Đỗ
Chu - lần đầu tiên tôi thấy - ... đứng khép nép.
Tôi đã có lần khép nép trước một tác phẩm của Tô Hoài, đó là Chuyện đầm sen Đền Đồng Cổ
in trong tập truyện ngắn này. Sau Giăng thề, đây là kiệt tác thứ hai của Tô Hoài. ( Dế mèn phiêu
lưu ký đương nhiên là một tác phẩm bất hủ, nhưng ý tôi nên xếp sang một chiếu khác). Trong
Chuyện đầm sen Đền Đồng Cổ, hơi thở hùng tráng của lịch sử vừa kín đáo, vừa mãnh liệt chạm
vào tình cảm sâu lắng nhất của bất kỳ độc giả người Việt nào. Ta gặp lại đam mê của Tô Hoài
quan sát những lễ tục dân gian và sự am hiểu tinh tường những tập quán ngành nghề, sinh
hoạt mà tác giả miêu tả.
Cảnh đám rước kiệu “bà” quay tròn:
“ Kiệu bát cống quay tròn, bây giờ mới thật như chiếc hoa giữa đám hội, vừa bay vừa cong
cánh nở. Lòng hân hoan mong đợi của cả ngàn người xem hội cứ thế bồng bột mãi lên. Hai mươi
bốn trai kiệu, nghe tiếng trống khẩu, một lượt quỳ như hai mươi bốn thớt voi rồi từ từ bò qua gò,
vai kiệu vẫn phẳng lừ như tường đứng. ” (tr. 146)
Mùa vụ cây dó (làm bột giấy):
“ Cạn kỳ dó chính tuyết, vừa cuối thu. Lần sang vụ dó Một Chạp đến tháng Giêng là “đầu giao”.
Một Chạp hay “đầu giao”, áo dó mới lột, quệt sương hay mưa đều ố nước, mất công phơi nhiều
nắng mới bó được. Nhưng vừa xong cái vất vả rừng này lại phải lặn lội sang rừng khác, đã vào vụ
dó chiêm. Dó chiêm tiếp dó đuôi tháng, quanh lại vừa trở lại chính tuyết. ” (tr. 163)
Đúng là Tô Hoài. Chỉ có thể là Tô Hoài.
Nhưng cái mà tôi kính nể là đọc tác phẩm này tôi như đứng trước sừng sững một tòa ngôn
ngữ chân chất và tinh diệu. “Trong ngọc” nhất trong tòa ngôn ngữ này là những câu văn thuộc
loại “văn xuôi thơ” sáng giá của văn chương Việt Nam hiện đại. Đây là những câu văn tả tình
cảnh một người con gái ngồi trên thuyền ngược sông đi lấy chồng giầu mạn ngược:
“Những lời hò vui mà thảm thiết:
Ra khoang… em bước… qua cầu…
Bến vui em đến…
Trên mui bỗng lóng lánh một trời sao. Con thuyền đêm nao cũng đi qua một trời sao ấy. Dù cho
con người có cạn nước mắt rồi cũng muốn hy vọng, như người chèo thuyền mong đến bến…
Một đêm, Hạ ra khoang sau. Hạ ngồi một lúc thật lâu. Bốn bề lặng ngắt. Những ngôi sao long
lanh nhỏ lã chã những giọt nước mắt xuống thế gian…” (tr. 162)
Một lần Hội nghị nhà văn trẻ, nghe giới thiệu nhà văn Tô Hoài lên phát biểu ý kiến, cả hội
trường im phăng phắc. Trái với sự chờ đợi của mọi người, nhà văn lão thành lên diễn đàn chỉ
để nói với các nhà văn trẻ một câu: “… chừng nào chưa phân biệt được “ mồm ” và “ miệng ” thì
đừng có cầm bút… ”. Tôi thiết nghĩ các bạn trẻ háo hức viết văn nên tìm đọc Chuyện đầm sen
Đền Đồng Cổ , đọc xong mà nhận ra được vốn ngôn từ của mình sao mà nó nghèo nàn, thảm
hại, xô bồ đến thế thì dù có tiến hay thoái cũng là một sự thức nhận hết sức có ích.
Thăm thẳm bóng người trong tập truyện ngắn này:
Bóng cô Cúc, “một sinh viên người Huế đẹp tuyệt trần” được nhà văn Tô Hoài trao cho bản
thảo cuốn tiểu thuyết Đêm mưa “ một chiều đông rét mướt” năm 1946 và tòa nhà lưu niệm
“tiêu điều, ảm đạm” của bà Điềm (cô Cúc năm xưa, nay đã trở thành nhà điêu khắc nổi tiếng
Điềm Phùng Thị),... “trong những tủ kính trang nhã, phủ bụi mấy bức khắc tự họa của nhà điêu
khắc”. (Hồi ký Tiểu thuyết đêm mưa)
Một người đàn bà “cả đời chỉ đi bói chèo ước mong tái hợp” vì chồng đi “đất đỏ Sài Goòng”
mãi không trở về. ( Cô đào Thương)
Bà Tứ dở điên dở dại lúc hấp hối phải gặp được người tình năm xưa mới yên tâm nhắm mắt.
( Tình buồn)
Có một loạt truyện giúp độc giả hình dung được đầy đủ hơn trí tưởng tượng kỳ thú và hóm
hỉnh của tác giả Dế mèn phiêu lưu ký : Đôi ri đá, Con gà trống ri, Truyện gã chuột bạch, Một cuộc
bể dâu, Mụ ngan…
Trong những truyện về các dân tộc miền núi mà tiêu biểu là truyện Vợ chồng A Phủ, còn gì
giản dị và sâu sắc hơn tinh thần cứu đất cứu mường nảy sinh trong tâm khảm và gắn với cuộc
đời của các nhân vật.
“ … Nhấn nhớ lại cả cái đời thảm của mẹ và của mình. Nhấn muốn khóc.
Giữa khi ấy thì tiếng chim kỳ lanh lảnh như tiếng kèn giục phường săn. Nhấn không khóc được.
Nhưng từ đấy, trong đời chiến đấu của người bộ đội, mỗi khi nghe trên cánh rừng, đầu rừng nào
có tiếng chim kỳ kêu, Nhấn tưởng hồn mẹ và hồn em đi đâu cũng đuổi theo Nhấn .” ( Cứu đất cứu
mường)
Tập Chuyện để quên có những truyện rất “quý”, làm sống lại không khí hồ hởi hồn nhiên của
những năm đầu kháng chiến, những đoàn dân công, bộ đội, cán bộ đi công tác…
Truyện - ký Khiêng máy là một tác phẩm xuất sắc. Tiêu biểu là cảnh đám công nhân nhà in
báo “ Cứu quốc Việt Bắc” khiêng máy nghỉ lại ở lán.
“… Cứ tối đến, các lán sàn trên, sàn dưới, hai tầng ghép lại bằng ống vầu tươi, người nằm
người ngồi ngổn ngang. Một ngày cật lực khiêng máy, vác giấy, tải gạo, tải muối… Tưởng như
mỗi khi ngả lưng xuống thì thiếp đi đến chết. Tiếng moóc-chi-ê ình oàng vào sương đêm, không
biết từ phía nào. Nhưng chẳng ai có thể chợp mắt. Từ chập tối đến khuya, người nằm cứ rào rào
kháo đủ các thứ chuyện. Chẳng chuyện nào vào chuyện nào, nhưng thú vị, hả hê. Họ đố nhau ăn
uống cái gì ngon nhất, rồi lấy quần áo ra đổi chác. Quanh quẩn chỉ vài cái cứ đổi đi đổi lại lẫn lộn,
như bọn đánh bạc. Lúc thì ồn ào như đương chè chén ở hiệu cao lâu. Lúc thì tranh nhau giá cả,
bớt xén như ở nhà cầm đồ Vạn Bảo. Lúc lại bắt chước vợ chồng ỏn ẻn, nũng nịu. Rồi hát tuồng,
gẩy đàn mồm, mãi khuya mới ngớt “cuộc vui”...” (Khiêng máy)
Có những truyện nói về cuộc sống cơ cực của người dân trong vùng bị chiếm đóng.
“Hờn khoác thừng kéo cày vào người, lúc đổi vai, lúc thắt ngang bụng. Cái cánh tay cụt giơ lên,
cóng rét, bị nếp thừng kéo thít xuống. Có hôm chỗ đau lại bật máu ra, chảy thấm xuống tận nách
áo. Nhưng Hờn vẫn cắn răng, lội. Hờn chỉ còn sức dựa vào cái thừng, lạch đi. Trên cánh đồng này
biết bao nhiêu người bì bõm cầy bừa, cấy hái quanh năm như thế, cho đến lúc phía tỉnh gầm gừ
tiếng xe, trời tảng sáng, các đồn bốt dọc đường sắp xua nhà phạt và lính tráng vác gậy đi dò mìn,
thì những người làm đồng kiệt sức mới lục đục về làng.” (Người mất trí)
Trong một thời gian khá dài (hơn bốn năm), tôi tham gia làm đề tài nghiên cứu khoa học do
anh Tô Hoài chủ trì. Thời gian đầu, một tháng họp một lần. Công việc tiến triển hơi chậm, anh
Tô Hoài quyết định một tuần họp một lần. Tôi nghĩ bụng đến tuần thứ ba không biết còn
chuyện gì để mà bàn, có khi phải hai, ba chầu bia mới hết buổi. Nhưng không phải như vậy. Tô
Hoài là một kho chuyện vô tận, có khi một nghìn lẻ một buổi họp vẫn chưa hết chuyện, không
riêng gì chuyện văn hóa, văn nghệ, hình như chuyện gì anh cũng biết, chuyện nào anh cũng nhớ
vài ba chi tiết đặc sắc, rất quan trọng. Không riêng gì những thời kỳ gần đây, mà những chuyện
thời Tự lực văn đoàn và Thơ mới, thời Đề cương văn hóa và Văn hóa cứu quốc, những năm đầu
kháng chiến... anh Tô Hoài vẫn nhớ và nhớ tường tận. Những chuyện anh hồi tưởng và kể lại
bao giờ cũng hấp dẫn. Anh rất quan tâm đến sự chính xác: tên người, địa danh, niên đại, những
sự kiện lịch sử và những chi tiết của đời sống thực tại. Tô Hoài hay nhận xét về những chỗ sai,
không chính xác trong các bài báo, bài văn và công trình nghiên cứu anh đọc nhưng tôi chưa
thấy ai nêu những điều không chính xác trong những trang viết của anh. Duy có một lần
Nguyễn Nguyên, một ký giả lão thành ở Sài Goòng nói với tôi: “Trong bút ký, hồi ký của Tô
Hoài có những chi tiết thần tình, phải là một người sành ăn thì miếng thịt chó ngon mới gọi là
“đặm và phải chăng cái miếng thịt”. Chỉ tiếc là trong một bài viết về “xóc đĩa” đăng trên Kiến
thức ngày nay hồi năm trước có những chi tiết sai, tôi có cảm tưởng là Tô Hoài chưa từng bước
chân vào sòng xóc đĩa.”
Nghe anh Tô Hoài hồi ức về “những năm tháng, con người và cuộc đời”, tôi hình dung một
lịch sử văn hóa, văn nghệ khác, không giống như những điều được trình bày trong những bộ sử
đã công bố, nó phong phú hơn, sống động hơn, chứa chất kịch tính, xem ra thảm hơn, mà cũng
lớn lao hơn. Cuối cùng thì tôi thông, họp tuần một lần không phải là nhiều vì đề tài nghiên cứu
của chúng tôi có liên quan mật thiết đến lịch sử văn hóa. Những chuyện anh Tô Hoài hồi tưởng
và kể lại thiên về giải ảo hơn là ảo hóa những người thật, việc thật. Cách nhìn giải ảo thường là
một nhân tố tiến bộ trong văn hóa, nhất là khi người giải ảo có ý thức đặt sự thật cao hơn
những ước lệ và cấm kỵ. Tô Hoài quá hiểu lịch sử và lịch sử xem ra cũng nể ngòi bút hồi ký của
ông. Tô Hoài không chỉ là một nhà tiểu thuyết phong tục có hạng, tác giả Cát bụi chân ai còn là
một tác gia hồi ký bậc thày, vả chăng những truyện hay của Tô Hoài thường là mang tính chất
hồi ký: Giăng thề (1943), Mười năm (1957 ), Tự truyện (1978), Ba người khác ... Anh Tô Hoài
không thích nói chuyện sách vở nhưng khi nói chuyện đụng đến những công trình nghiên cứu
thì thấy anh có đọc và đọc khá nhiều. Tôi vẫn cho rằng khổ công đọc sách là một biểu hiện
đáng tin cậy của sự khiêm tốn, có thể giả vờ khiêm tốn trong ứng xử nhưng đọc sách thì không
giả vờ được. Trong một chuyến thày trò trường viết văn Nguyễn Du hành hương về Tiên Điền,
Nghi Xuân thăm quê hương đại thi hào có nhà văn Tô Hoài, chủ tịch đầu tiên và cuối cùng Hội
đồng giáo dục Trường Nguyễn Du cùng đi. Trong buổi lễ viếng mộ, mọi người nín lặng khi nhà
văn Tô Hoài bước ra đứng trước mộ. Ông thắp nhang, rưới rượu lên mồ rồi ông rót rượu vào
cái chén ông cầm trên tay và uống cạn chén rượu trước mộ Nguyễn Du và trước mặt mọi
người. Tôi nghe tiếng mấy sinh viên viết văn thì thào: “Tô Hoài tranh thủ uống rượu”, “Tô Hoài
cũng ngang đấy chứ”... Tôi nghĩ đến hai câu thơ chữ Hán trong bài thơ Đối tửu của Nguyễn Du:
Sinh tiền bất tận tam bôi tửu
Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi.
Diễn nghĩa:
Lúc sống không uống cạn hồ rượu
Chết rồi ai rưới ruợu trên mồ cho?
Làm đề tài nghiên cứu khoa học, về bất kỳ vấn đề nào anh Tô Hoài cũng có chủ kiến riêng. Về
vấn đề tranh luận: làm thơ bằng ý hay bằng chữ ? Ý kiến của Tô Hoài: làm thơ bằng chữ nhưng
vấn đề là người làm thơ sống những chữ của mình như thế nào? Tôi thấy nói như vậy cũng là rõ
và đủ. Đề tài của chúng tôi được phân thành nhiều vấn đề. Giải quyết mỗi vấn đề, trong nhóm
đề tài (có Ngọc Trai, Vương Trí Nhàn và tôi) mỗi người viết bài, sau đó anh Tô Hoài tổng kết.
Tôi nghiệm thấy trong bài tổng kết, anh Tô Hoài hầu như chỉ trình bày những chủ kiến riêng
của anh. Mặt khác, anh Tô Hoài không bao giờ có ý định đưa ra những ý kiến hướng dẫn, dù là
dưới hình thức góp ý, gợi ý nhẹ nhàng. Riêng tôi thấy cách làm việc như vậy hết sức dễ chịu. Có
một buổi sinh hoạt nhóm tôi trình bày những ý kiến của tôi về văn hóa làng. Sang buổi sau anh
Tô Hoài đưa tôi cuốn sách của Nguyễn Hồng Phong về Công xã nông thôn và hỏi: “Hiến đã đọc
cuốn này chưa?”. Quả nhiên tôi chưa đọc cuốn này và đây là một tài liệu quý đối với đề tài của
tôi, không có nó nội dung bài viết của tôi sẽ kém phần “chắc thiệt” nhiều. Trên đời có một loại
ân nhân rất đáng quý nhưng lại ít được chú ý, đó là những người biết ta đương cần đọc cuốn
sách gì và đưa cho ta một cách hồn nhiên đúng cuốn sách ấy. Trong các bạn đồng nghiệp ở
trong nước, loại ân nhân này rất hiếm. Trong những bạn đồng nghiệp Pháp, Mỹ và Việt kiều dễ
gặp hơn những người sẵn sàng chia sẻ sách và tư liệu với mình. Không có những cuốn sách mà
Dan Duffy, Neil Jameison, François Jullien, Nguyễn Bá Chung (Mỹ), Nguyễn Ngọc Giao (Pháp)...
cho tôi, những công trình biên khảo của tôi sẽ khó khăn hơn rất nhiều.
Những ý kiến riêng của anh Tô Hoài đôi khi rất bất ngờ. Trong một cuộc hội thảo, có một
diễn giả nói rất mạnh về sự thiếu khiêm tốn trong giới trí thức. Đây là một định kiến phổ biến
và tôi cũng nghĩ như vậy. Giờ nghỉ, anh Tô Hoài nói với tôi: “Lạ thật, cứ nói đến trí thức là nhấn
mạnh vào bệnh không khiêm tốn, tất cả những người trí thức tôi biết đều hết sức khiêm tốn,
không khiêm tốn làm sao có trí thức được?” Tôi thấy anh Tô Hoài có lý. Thiện cảm và ác cảm ở
anh Tô Hoài cũng rất riêng. Có một người bạn văn anh Tô Hoài quen đã hơn bốn chục năm
nhưng chưa lần nào anh đến chơi nhà, anh giải thích: “Giả dụ hôm nay tôi mời ông ấy ăn phở, y
như rằng ngày hôm sau ông ta mời bằng được trả lại ngay, những người như vậy tôi thấy rất
khó giao thiệp”.
Hoàng Ngọc Hiến
Đồng chí Hùng Vương
Tư hấp tấp chạy sang nhà chủ nhiệm Việt Minh Nông Văn Pảo. Vào một xóm lưa thưa mấy
búi mai. Đồng chí Tư qua dưới nhà đồng chí Hùng Vương [1] , nghe tiếng trang thóc rào rào
trên sân sàn, Tư ngẩng đầu gọi to:
- Kìa Hùng Vương!
Hùng Vương ngừng tay trang thóc, nhìn xuống. Hùng Vương, người nhễ nhại mồ hôi dưới
ánh nắng hanh. Đôi vai trần và tảng ngực gồ lên trong múi thịt tròn, đỏ bóng. Hùng Vương lặng
lẽ nhìn xuống, như nghĩ ngợi mà chưa tìm ra được một câu gì để nói. Đó là một cái thói quen
trầm lặng chậm chạp vốn có.
Tư rửa chân, lên nhà. Hùng Vương ngồi xuống sân và hỏi:
- Mới ở đâu về đấy?
Tư sốt ruột, hỏi lại:
- Đồng chí biết Pháp tấn công lên chợ Phủ chưa?
- Biết.
- Chợ Phủ có kịp phá hoại không?
- Phá hết rồi.
- Bấy giờ từ chợ Phủ lên và trong toàn châu chuẩn bị như thế nào?
- Đương chuẩn bị cả.
Hùng Vương vòng tay lên đầu gối, ngước mắt lên nghe cán bộ Tư hỏi từng việc: Phá châu, phá
đường cái chưa? Canh gác làm sao? Còn quân dân? Kế hoạch đối phó với tình thế mới cho các
ban Việt Minh xã? Châu bộ khai hội chưa? Mỗi câu Tư hỏi, Hùng Vương lại huơ một tay qua
đầu, trả lời:
- Không sợ. Chúng nó không thể làm gì được ta đâu.
- Đồng chí phải về châu ngay, triệu tập châu bộ thảo luận mấy ý kiến tôi đã đưa ra. Nhất là
công tác phá hoại, phá đường, phá ngay không có không kịp.
- Thế thì tốt đấy. Tôi đi ngay được.
Hùng Vương gọi con đến. Thằng bé mắt đen láy, mới độ mười hai, mười ba tuổi. Cũng cởi
trần và ngực cũng dô ra như bố. Hùng Vương dặn nó đổ nốt thóc ra sân phơi. Hùng Vương lấy
cái áo sơ mi trắng cộc tay, mặc quần soóc vàng. Hùng Vương đội mũ trắng. Cái xắc cốt da bò
quàng vào sườn bên vai trái. Con dao găm cắm trong bao da đeo sườn bên phải, cạnh túi quần
sau. Hùng Vương bước xuống cầu thang thong thả, chắc chắn.
Hùng Vương rẽ sang đường cái lớn đi lên châu.
Năm năm trước, cán bộ Đức Xuân về khai hội bí mật, đặt bí danh cho các tiểu tổ nông dân,
cũng bắt đầu từ ấy, Hứa Văn Nảo có tên bí mật là đồng chí Hùng Vương do Đức Xuân đặt cho.
Đức Xuân nói: “Hùng Vương là tên ông tổ sinh ra các họ nước ta. Đặt bí danh thế cho suốt đời
ta nhớ được tên ông tổ”. Đức Xuân ở đấy rồi về sau trúng kế của thằng phản động cai Mói, bị
giết ở Hạ Vị, sau đó thì tiếng đồn cách mệnh đã về ở núi Cứu Quốc [2] nhiều lắm, thôi thì bọn
châu Hồ, châu Quận, cai Mói ra sức lục lọi khắp các triền núi. Người ở các bản xung quanh bỏ
hết rãy ruộng, ngày đêm phải khốn khổ đi tuần phòng, mò thám. Các làng Mán bị dồn xuống ở
cả dưới chân núi. Chúng sợ các làng Mán nuôi cách mệnh ở trên núi. Nhưng cách mệnh vẫn ở
trên núi được. Cho đến một hôm giữa năm 1941, có cuộc khủng bố to, tất cả dân các bản phía
núi Tây Bắc, từ trẻ con, đàn bà đến người già mắt còn sáng, mỗi người phải đem dao đi mò các
hang, các khe, các hốc đá từ dưới chân thung lũng lên tới đỉnh ngọn Píc Cáy. Hùng Vương và
đồng chí Lâm Tuấn đã tìm cách vượt vây, từ đấy Hùng Vương bỏ vùng quê, bỏ nhà, thoát ly đi
công tác bí mật. Đến khi đảo chính Nhật, bộ đội về giải phóng xã, làm chủ nhiệm Việt Minh xã.
Sau tổng khởi nghĩa, Hùng Vương lên làm cán bộ Mặt Trận của châu.
Pháp đã lên tới chợ Phủ rồi. Các xóm bắt đầu làm vườn không nhà trống, lại như những năm
chạy Nhật trước. Bà già, trẻ con đeo túi quần áo, chăn, màn, xanh, khiêng nồi, chảo tốt vào ở
kín trong ngọn suối. Từng bu gà, bu vịt, gánh lợn cũng kĩu kịt. Làng xóm đi lặng lẽ, lạnh lẽo và bí
mật. Nhưng ngoài đồng, tiếng đập lúa thình thịch vẫn đều đều. Những đệp thóc gặt rồi phơi
vàng rượi trên các mỏm đá dọc bờ suối.
Tư ra ruộng tìm, thấy Pảo đương gặt. Tư bàn với Pảo: “Ta bàn với Việt Minh xã, với Ủy Ban về
khai hội. Tình hình nóng lắm rồi”.
Pảo lên bờ ruộng nói:
- Việt Minh cả xã, chúng nó cũng sẽ thất bại thôi, đồng chí ạ.
- Thất bại là thế nào?
- Anh em bận gặt, phải gặt nhanh.
- Thế thì tối nay khai hội ban làng vậy.
Pảo gật đầu, lại bước xuống ruộng. Xung quanh cánh đồng người lặng lẽ, bình thản khuân
từng bu gà, bu vịt, dồn lợn vào lán. Người vẫn tấp nập đập lúa, thản nhiên như chưa biết Pháp
đã tới chợ Phủ.
Cuộc khai hội ban làng tối hôm ấy lại có cả chủ tịch kháng chiến và nhiều tổ trưởng các giới
cứu quốc đến tham gia. Mười hai người ngồi vòng trước bếp lửa trước nhà. Chủ nhiệm Việt
Minh Nông Văn Pảo kê một mảnh giấy bên cạnh đống củi bập bùng cháy, viết chương trình
khai hội. Anh ngẫm nghĩ, đôi lông mày díu lại. Anh cúi xuống viết, rồi giơ giấy lên đọc: “Thưa
các đồng chí, chương trình khai hội hôm nay có: lý do, bầu chủ tịch, thư ký, thảo luận công tác
canh gác, giao thông, du kích, tiếp tế, công tác phá hoại, làm mít tinh giải thích cho xóm biết
cách đề phòng Tây.”
Bắt đầu, bàn việc canh gác… Họp đến khuya mới xong. Mọi người chuyền nhau cái điếu cày,
bàn tán về thuốc lào mấy hôm nay đắt giá. Tám mươi đồng một bánh mà không có người bán.
Chuyện khuya rồi mọi người ngủ ngay trên mặt sàn bếp lửa.
Hôm sau, Tư ra hỏi kết quả khai hội. Hai dân quân đã vác súng kíp ngồi giữa đỉnh rồi. Buổi
tối, Tư lại đến nhà Pảo. Bỗng nghe có tiếng súng xa ầm ì. Trời tối, Tư, Pảo và Eng, em trai Pảo,
ra đứng ngoài sàn ngẩng đầu lên. Tiếng ầm ì từ ngoài chợ Phủ đưa lại. Thấy xa xa phía ngoài
đường lằn lên một vạch sáng. Cách một quãng lại nổi từng hàng ánh sáng trắng như một sải vải
mới. Pảo vào nhà, rít hơi thuốc, lại ra đứng, vừa thở khói, vừa hỏi:
- Ô tô của ta hay của nó, đồng chí Tư?
Tư khẽ đáp:
- Ta không có ô tô. Mà nhiều thế kia. Ô tô của nó rồi.
- Một cái, hai cái, ba cái, bốn cái, năm cái…
Đoàn xe ấy chạy, lằn sáng cứ tuôn mãi ra. Sáu cái, bảy cái, tám cái… Sương lạnh phả vào mặt
Tư đương nóng bừng.
Tiếng Pảo nói:
- Ngày trước ô tô của Nhật nó cũng đi cả đêm thế này. Nó còn chạy bộ từng mấy trăm thằng
nữa. Lúc nào bị ta phục kích thì nó nằm im hết. Thằng Nhật gan lắm. Nó ném một quả lựu đạn
khói, mả mẹ nó, nó đã đứng vào khói và lưỡi lê trước mặt ta rồi.
- Mười bốn cái, mười lăm cái…
- Thằng Pháp này chắc là dát lắm. Cái năm mà Việt Minh xuống lập ban châu, quân cách mạng
ta bảo nó cùng bắn thằng Việt gian châu quận, nó không dám bắn. Đến lúc ta bắn thì cả lũ lính,
cả thằng đồn Tây Đờ-đông, Tây chủ mỏ cũng tái mét mặt. Pháp, thì như con cua. Thế là Tây
hàng cách mạng hết rồi.
Câu nói ấy của Pảo làm cho Tư vừa bực mình, vừa buồn cười. Nhưng sự ung dung lạ lùng ấy
thực tình khi cướp chính quyền tỉnh cũng làm cho Tư bình tĩnh trở lại từ lúc nhìn đoàn xe Pháp
chạy qua núi.
*
* *
Từ sau hôm đấy, ngày nào cũng có ô tô Pháp vù vù chạy ngoài đường cái. Dân làng đã vào các
lán. Trâu bò đuổi hết lên rừng rồi. Có một lần mười lính Pháp mò vào làng. Nhưng không lấy
được gì. Chúng nó đốt hai cái nhà.
Thế rồi một tháng qua. Pháp không thể xuyên chéo qua được tỉnh Bắc Cạn, chúng phải kéo về
chợ Phủ, bỏ vị trí huyện Chợ Rã.
Ở Pá Pầu về, Tư đương lội suối, nom xa thấy đồng chí Hùng Vương. Xắc cốt da vẫn quàng
cạnh sườn. Bao dao găm thò một tí đầu mẩu dưới thân áo sau lưng.
Hùng Vương đến bắt tay Tư, rồi nói:
- Tôi xin báo tin: Pháp đã rút khỏi châu Chợ Rã. Đồng chí đã biết chưa?
- Biết rồi.
- Mời đồng chí về nhà tôi. Tôi có vấn đề muốn thảo luận.
Cái máng nước nhà Hùng Vương lại lách rách chảy xuống chiếc bồn gỗ đầu thang. Trong nhà,
bếp chưa đặt kiềng, bên buồng còn ngổn ngang ba, bốn túi đựng quần áo mới mang ở lán về.
Thằng bé con Hùng Vương cởi trần, đắp chăn, đương ngủ ngon.
- Ta chưa nên cho người già, trẻ con và đem quần áo về nhà vội.
Hùng Vương cười, tìm chổi quét sàn, nói: “Tôi cũng chủ quan một tí đấy”.
Tư hỏi:
- Có việc gì thảo luận với tôi?
- Tôi có nhiều danh từ muốn hỏi đồng chí (Hùng Vương lấy sổ tay, bút máy trong xắc cốt),
nhiều chữ mới lắm. “Lễ Nô-en”, “Nhân dân giải phóng quân Trung Hoa”, “tài phiệt Mỹ”, “kế
hoạch Cờ-lô Cờ-lô”, “hội tề”. Từ hôm chị Bắc đi về khu, tôi có nhiều danh từ lắm mà không hỏi
được ai.
Tiếng đại bác phía chợ Phủ vẫn dội lại. Nhưng, như không nghe tiếng, hai người vẫn ngồi,
người nói, người ghi cắm cúi.
*
* *
Rồi có đến mấy tháng, lâu không gặp Hùng Vương. Nhưng thỉnh thoảng Tư vẫn nhận được
thư của Hùng Vương gửi về hỏi chữ. Biết Hùng Vương bận công tác ở xã mà vẫn chịu khó đọc
chữ. Tư đọc thư, lần nào cũng trả lời ngay.
Thỉnh thoảng, đi qua nhà Hùng Vương, gặp thằng bé con, Tư hỏi:
- Cá (bố) có về không?
Nó đáp:
- Cá không về.
Một hôm, em bé đến tìm Tư, bảo:
- Cá đã về đấy. Cá bảo đồng chí ra chơi ăn cơm ngay.
Nhưng Tư bảo nó về trước. Tư đã thuộc cái tính rềnh ràng của mọi người ở đây. Quả nhiên,
một lúc sau, Tư ra thấy mới chỉ có một mình bố Hùng Vương ở nhà. Ông ké nói:
- Hùng Vương còn đi đắp bờ ruộng.
Ngồi đợi một lúc mới thấy Hùng Vương lững thững về, quần xoe lên tận bẹn. Vai vác cái mai
đắp bờ. Chiếc xắc cốt đựng tài liệu vẫn quàng bên trái sườn. Con dao găm cắm trong bao da
đeo bên phải. Vợ Hùng Vương cũng vác mai, tay xách thêm giỏ ốc. Tư ra cầu thang, vừa cười
vừa nói:
- Đi làm ruộng mà cũng đeo xắc cốt à?
- Quân sự hóa, đồng chí ạ. Bao nhiêu năm nay thế, nó thành tính rồi.
Vợ Hùng Vương nấu nồi canh ốc cả vỏ. Con bé chạy vào lán trong rừng lấy thêm bát. Trong
khi ấy Hùng Vương cầm cái kéo ra sân sàn cạo đầu cho thằng con giai. Tiếng kéo kêu tách tách,
Hùng Vương nói:
- Sang năm nay thằng này nó nhớn một tý, tôi cho nó đi theo đồng chí. Cho nó học tập, nó
tiến bộ, về sau hơn tôi nhiều.
Một lát sau, vào mâm cơm, Hùng Vương mới thong thả nói:
- Đoàn thể vừa đổi tôi lên công tác trên Ngân Sơn, đồng chí ạ.
- Đi Ngân Sơn à? Bao giờ đi?
- Mai tôi cùng đi với Pảo. Pảo cũng công tác trên Ngân Sơn.
Ngân Sơn. Hai tháng nay Pháp chiếm Ngân Sơn, phá châu Ngân Sơn rất dữ, rất hại. Châu
Ngân Sơn, toàn rừng thưa, núi đá, đồi trọc san sát liền nhau như bát úp, n
... Sừng sững một tòa ngôn ngữ chân chất, tinh diệu…
Đồng chí Hùng Vương
Tào Lường
Du kích huyện
Đi dân công
Xuống làng
Cứu đất cứu mường
Vợ chồng A Phủ
Vượt Tây Côn Lĩnh
Mùa hái bông
Thào Mỵ kể chuyện đời mình
Sầm Sơn
Chiếc áo “xường xám” màu hoa đào
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
... Sừng sững một tòa ngôn ngữ chân chất, tinh
diệu…
(Thay lời giới thiệu)
Trong tập tùy bút Thăm thẳm bóng người của Đỗ Chu, Nguyễn Tuân, Tô Hoài được tác giả
giới thiệu bằng cảm hứng và lời văn trác tuyệt. Trong thăm thẳm bóng người có bóng ta. Có
thăm thẳm bóng Nguyễn Tuân trong những kiệt tác ông để lại cho đời. Tô Hoài còn đấy, “ đứng
chống đòn gánh, dưới chân là hai quang sách nặng ”, bóng của hàng triệu độc giả hòa vào bóng
Tô Hoài trong những tác phẩm bất hủ của ông. Trước “cốt kiêu” và uy bút lực của hai ông, Đỗ
Chu - lần đầu tiên tôi thấy - ... đứng khép nép.
Tôi đã có lần khép nép trước một tác phẩm của Tô Hoài, đó là Chuyện đầm sen Đền Đồng Cổ
in trong tập truyện ngắn này. Sau Giăng thề, đây là kiệt tác thứ hai của Tô Hoài. ( Dế mèn phiêu
lưu ký đương nhiên là một tác phẩm bất hủ, nhưng ý tôi nên xếp sang một chiếu khác). Trong
Chuyện đầm sen Đền Đồng Cổ, hơi thở hùng tráng của lịch sử vừa kín đáo, vừa mãnh liệt chạm
vào tình cảm sâu lắng nhất của bất kỳ độc giả người Việt nào. Ta gặp lại đam mê của Tô Hoài
quan sát những lễ tục dân gian và sự am hiểu tinh tường những tập quán ngành nghề, sinh
hoạt mà tác giả miêu tả.
Cảnh đám rước kiệu “bà” quay tròn:
“ Kiệu bát cống quay tròn, bây giờ mới thật như chiếc hoa giữa đám hội, vừa bay vừa cong
cánh nở. Lòng hân hoan mong đợi của cả ngàn người xem hội cứ thế bồng bột mãi lên. Hai mươi
bốn trai kiệu, nghe tiếng trống khẩu, một lượt quỳ như hai mươi bốn thớt voi rồi từ từ bò qua gò,
vai kiệu vẫn phẳng lừ như tường đứng. ” (tr. 146)
Mùa vụ cây dó (làm bột giấy):
“ Cạn kỳ dó chính tuyết, vừa cuối thu. Lần sang vụ dó Một Chạp đến tháng Giêng là “đầu giao”.
Một Chạp hay “đầu giao”, áo dó mới lột, quệt sương hay mưa đều ố nước, mất công phơi nhiều
nắng mới bó được. Nhưng vừa xong cái vất vả rừng này lại phải lặn lội sang rừng khác, đã vào vụ
dó chiêm. Dó chiêm tiếp dó đuôi tháng, quanh lại vừa trở lại chính tuyết. ” (tr. 163)
Đúng là Tô Hoài. Chỉ có thể là Tô Hoài.
Nhưng cái mà tôi kính nể là đọc tác phẩm này tôi như đứng trước sừng sững một tòa ngôn
ngữ chân chất và tinh diệu. “Trong ngọc” nhất trong tòa ngôn ngữ này là những câu văn thuộc
loại “văn xuôi thơ” sáng giá của văn chương Việt Nam hiện đại. Đây là những câu văn tả tình
cảnh một người con gái ngồi trên thuyền ngược sông đi lấy chồng giầu mạn ngược:
“Những lời hò vui mà thảm thiết:
Ra khoang… em bước… qua cầu…
Bến vui em đến…
Trên mui bỗng lóng lánh một trời sao. Con thuyền đêm nao cũng đi qua một trời sao ấy. Dù cho
con người có cạn nước mắt rồi cũng muốn hy vọng, như người chèo thuyền mong đến bến…
Một đêm, Hạ ra khoang sau. Hạ ngồi một lúc thật lâu. Bốn bề lặng ngắt. Những ngôi sao long
lanh nhỏ lã chã những giọt nước mắt xuống thế gian…” (tr. 162)
Một lần Hội nghị nhà văn trẻ, nghe giới thiệu nhà văn Tô Hoài lên phát biểu ý kiến, cả hội
trường im phăng phắc. Trái với sự chờ đợi của mọi người, nhà văn lão thành lên diễn đàn chỉ
để nói với các nhà văn trẻ một câu: “… chừng nào chưa phân biệt được “ mồm ” và “ miệng ” thì
đừng có cầm bút… ”. Tôi thiết nghĩ các bạn trẻ háo hức viết văn nên tìm đọc Chuyện đầm sen
Đền Đồng Cổ , đọc xong mà nhận ra được vốn ngôn từ của mình sao mà nó nghèo nàn, thảm
hại, xô bồ đến thế thì dù có tiến hay thoái cũng là một sự thức nhận hết sức có ích.
Thăm thẳm bóng người trong tập truyện ngắn này:
Bóng cô Cúc, “một sinh viên người Huế đẹp tuyệt trần” được nhà văn Tô Hoài trao cho bản
thảo cuốn tiểu thuyết Đêm mưa “ một chiều đông rét mướt” năm 1946 và tòa nhà lưu niệm
“tiêu điều, ảm đạm” của bà Điềm (cô Cúc năm xưa, nay đã trở thành nhà điêu khắc nổi tiếng
Điềm Phùng Thị),... “trong những tủ kính trang nhã, phủ bụi mấy bức khắc tự họa của nhà điêu
khắc”. (Hồi ký Tiểu thuyết đêm mưa)
Một người đàn bà “cả đời chỉ đi bói chèo ước mong tái hợp” vì chồng đi “đất đỏ Sài Goòng”
mãi không trở về. ( Cô đào Thương)
Bà Tứ dở điên dở dại lúc hấp hối phải gặp được người tình năm xưa mới yên tâm nhắm mắt.
( Tình buồn)
Có một loạt truyện giúp độc giả hình dung được đầy đủ hơn trí tưởng tượng kỳ thú và hóm
hỉnh của tác giả Dế mèn phiêu lưu ký : Đôi ri đá, Con gà trống ri, Truyện gã chuột bạch, Một cuộc
bể dâu, Mụ ngan…
Trong những truyện về các dân tộc miền núi mà tiêu biểu là truyện Vợ chồng A Phủ, còn gì
giản dị và sâu sắc hơn tinh thần cứu đất cứu mường nảy sinh trong tâm khảm và gắn với cuộc
đời của các nhân vật.
“ … Nhấn nhớ lại cả cái đời thảm của mẹ và của mình. Nhấn muốn khóc.
Giữa khi ấy thì tiếng chim kỳ lanh lảnh như tiếng kèn giục phường săn. Nhấn không khóc được.
Nhưng từ đấy, trong đời chiến đấu của người bộ đội, mỗi khi nghe trên cánh rừng, đầu rừng nào
có tiếng chim kỳ kêu, Nhấn tưởng hồn mẹ và hồn em đi đâu cũng đuổi theo Nhấn .” ( Cứu đất cứu
mường)
Tập Chuyện để quên có những truyện rất “quý”, làm sống lại không khí hồ hởi hồn nhiên của
những năm đầu kháng chiến, những đoàn dân công, bộ đội, cán bộ đi công tác…
Truyện - ký Khiêng máy là một tác phẩm xuất sắc. Tiêu biểu là cảnh đám công nhân nhà in
báo “ Cứu quốc Việt Bắc” khiêng máy nghỉ lại ở lán.
“… Cứ tối đến, các lán sàn trên, sàn dưới, hai tầng ghép lại bằng ống vầu tươi, người nằm
người ngồi ngổn ngang. Một ngày cật lực khiêng máy, vác giấy, tải gạo, tải muối… Tưởng như
mỗi khi ngả lưng xuống thì thiếp đi đến chết. Tiếng moóc-chi-ê ình oàng vào sương đêm, không
biết từ phía nào. Nhưng chẳng ai có thể chợp mắt. Từ chập tối đến khuya, người nằm cứ rào rào
kháo đủ các thứ chuyện. Chẳng chuyện nào vào chuyện nào, nhưng thú vị, hả hê. Họ đố nhau ăn
uống cái gì ngon nhất, rồi lấy quần áo ra đổi chác. Quanh quẩn chỉ vài cái cứ đổi đi đổi lại lẫn lộn,
như bọn đánh bạc. Lúc thì ồn ào như đương chè chén ở hiệu cao lâu. Lúc thì tranh nhau giá cả,
bớt xén như ở nhà cầm đồ Vạn Bảo. Lúc lại bắt chước vợ chồng ỏn ẻn, nũng nịu. Rồi hát tuồng,
gẩy đàn mồm, mãi khuya mới ngớt “cuộc vui”...” (Khiêng máy)
Có những truyện nói về cuộc sống cơ cực của người dân trong vùng bị chiếm đóng.
“Hờn khoác thừng kéo cày vào người, lúc đổi vai, lúc thắt ngang bụng. Cái cánh tay cụt giơ lên,
cóng rét, bị nếp thừng kéo thít xuống. Có hôm chỗ đau lại bật máu ra, chảy thấm xuống tận nách
áo. Nhưng Hờn vẫn cắn răng, lội. Hờn chỉ còn sức dựa vào cái thừng, lạch đi. Trên cánh đồng này
biết bao nhiêu người bì bõm cầy bừa, cấy hái quanh năm như thế, cho đến lúc phía tỉnh gầm gừ
tiếng xe, trời tảng sáng, các đồn bốt dọc đường sắp xua nhà phạt và lính tráng vác gậy đi dò mìn,
thì những người làm đồng kiệt sức mới lục đục về làng.” (Người mất trí)
Trong một thời gian khá dài (hơn bốn năm), tôi tham gia làm đề tài nghiên cứu khoa học do
anh Tô Hoài chủ trì. Thời gian đầu, một tháng họp một lần. Công việc tiến triển hơi chậm, anh
Tô Hoài quyết định một tuần họp một lần. Tôi nghĩ bụng đến tuần thứ ba không biết còn
chuyện gì để mà bàn, có khi phải hai, ba chầu bia mới hết buổi. Nhưng không phải như vậy. Tô
Hoài là một kho chuyện vô tận, có khi một nghìn lẻ một buổi họp vẫn chưa hết chuyện, không
riêng gì chuyện văn hóa, văn nghệ, hình như chuyện gì anh cũng biết, chuyện nào anh cũng nhớ
vài ba chi tiết đặc sắc, rất quan trọng. Không riêng gì những thời kỳ gần đây, mà những chuyện
thời Tự lực văn đoàn và Thơ mới, thời Đề cương văn hóa và Văn hóa cứu quốc, những năm đầu
kháng chiến... anh Tô Hoài vẫn nhớ và nhớ tường tận. Những chuyện anh hồi tưởng và kể lại
bao giờ cũng hấp dẫn. Anh rất quan tâm đến sự chính xác: tên người, địa danh, niên đại, những
sự kiện lịch sử và những chi tiết của đời sống thực tại. Tô Hoài hay nhận xét về những chỗ sai,
không chính xác trong các bài báo, bài văn và công trình nghiên cứu anh đọc nhưng tôi chưa
thấy ai nêu những điều không chính xác trong những trang viết của anh. Duy có một lần
Nguyễn Nguyên, một ký giả lão thành ở Sài Goòng nói với tôi: “Trong bút ký, hồi ký của Tô
Hoài có những chi tiết thần tình, phải là một người sành ăn thì miếng thịt chó ngon mới gọi là
“đặm và phải chăng cái miếng thịt”. Chỉ tiếc là trong một bài viết về “xóc đĩa” đăng trên Kiến
thức ngày nay hồi năm trước có những chi tiết sai, tôi có cảm tưởng là Tô Hoài chưa từng bước
chân vào sòng xóc đĩa.”
Nghe anh Tô Hoài hồi ức về “những năm tháng, con người và cuộc đời”, tôi hình dung một
lịch sử văn hóa, văn nghệ khác, không giống như những điều được trình bày trong những bộ sử
đã công bố, nó phong phú hơn, sống động hơn, chứa chất kịch tính, xem ra thảm hơn, mà cũng
lớn lao hơn. Cuối cùng thì tôi thông, họp tuần một lần không phải là nhiều vì đề tài nghiên cứu
của chúng tôi có liên quan mật thiết đến lịch sử văn hóa. Những chuyện anh Tô Hoài hồi tưởng
và kể lại thiên về giải ảo hơn là ảo hóa những người thật, việc thật. Cách nhìn giải ảo thường là
một nhân tố tiến bộ trong văn hóa, nhất là khi người giải ảo có ý thức đặt sự thật cao hơn
những ước lệ và cấm kỵ. Tô Hoài quá hiểu lịch sử và lịch sử xem ra cũng nể ngòi bút hồi ký của
ông. Tô Hoài không chỉ là một nhà tiểu thuyết phong tục có hạng, tác giả Cát bụi chân ai còn là
một tác gia hồi ký bậc thày, vả chăng những truyện hay của Tô Hoài thường là mang tính chất
hồi ký: Giăng thề (1943), Mười năm (1957 ), Tự truyện (1978), Ba người khác ... Anh Tô Hoài
không thích nói chuyện sách vở nhưng khi nói chuyện đụng đến những công trình nghiên cứu
thì thấy anh có đọc và đọc khá nhiều. Tôi vẫn cho rằng khổ công đọc sách là một biểu hiện
đáng tin cậy của sự khiêm tốn, có thể giả vờ khiêm tốn trong ứng xử nhưng đọc sách thì không
giả vờ được. Trong một chuyến thày trò trường viết văn Nguyễn Du hành hương về Tiên Điền,
Nghi Xuân thăm quê hương đại thi hào có nhà văn Tô Hoài, chủ tịch đầu tiên và cuối cùng Hội
đồng giáo dục Trường Nguyễn Du cùng đi. Trong buổi lễ viếng mộ, mọi người nín lặng khi nhà
văn Tô Hoài bước ra đứng trước mộ. Ông thắp nhang, rưới rượu lên mồ rồi ông rót rượu vào
cái chén ông cầm trên tay và uống cạn chén rượu trước mộ Nguyễn Du và trước mặt mọi
người. Tôi nghe tiếng mấy sinh viên viết văn thì thào: “Tô Hoài tranh thủ uống rượu”, “Tô Hoài
cũng ngang đấy chứ”... Tôi nghĩ đến hai câu thơ chữ Hán trong bài thơ Đối tửu của Nguyễn Du:
Sinh tiền bất tận tam bôi tửu
Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi.
Diễn nghĩa:
Lúc sống không uống cạn hồ rượu
Chết rồi ai rưới ruợu trên mồ cho?
Làm đề tài nghiên cứu khoa học, về bất kỳ vấn đề nào anh Tô Hoài cũng có chủ kiến riêng. Về
vấn đề tranh luận: làm thơ bằng ý hay bằng chữ ? Ý kiến của Tô Hoài: làm thơ bằng chữ nhưng
vấn đề là người làm thơ sống những chữ của mình như thế nào? Tôi thấy nói như vậy cũng là rõ
và đủ. Đề tài của chúng tôi được phân thành nhiều vấn đề. Giải quyết mỗi vấn đề, trong nhóm
đề tài (có Ngọc Trai, Vương Trí Nhàn và tôi) mỗi người viết bài, sau đó anh Tô Hoài tổng kết.
Tôi nghiệm thấy trong bài tổng kết, anh Tô Hoài hầu như chỉ trình bày những chủ kiến riêng
của anh. Mặt khác, anh Tô Hoài không bao giờ có ý định đưa ra những ý kiến hướng dẫn, dù là
dưới hình thức góp ý, gợi ý nhẹ nhàng. Riêng tôi thấy cách làm việc như vậy hết sức dễ chịu. Có
một buổi sinh hoạt nhóm tôi trình bày những ý kiến của tôi về văn hóa làng. Sang buổi sau anh
Tô Hoài đưa tôi cuốn sách của Nguyễn Hồng Phong về Công xã nông thôn và hỏi: “Hiến đã đọc
cuốn này chưa?”. Quả nhiên tôi chưa đọc cuốn này và đây là một tài liệu quý đối với đề tài của
tôi, không có nó nội dung bài viết của tôi sẽ kém phần “chắc thiệt” nhiều. Trên đời có một loại
ân nhân rất đáng quý nhưng lại ít được chú ý, đó là những người biết ta đương cần đọc cuốn
sách gì và đưa cho ta một cách hồn nhiên đúng cuốn sách ấy. Trong các bạn đồng nghiệp ở
trong nước, loại ân nhân này rất hiếm. Trong những bạn đồng nghiệp Pháp, Mỹ và Việt kiều dễ
gặp hơn những người sẵn sàng chia sẻ sách và tư liệu với mình. Không có những cuốn sách mà
Dan Duffy, Neil Jameison, François Jullien, Nguyễn Bá Chung (Mỹ), Nguyễn Ngọc Giao (Pháp)...
cho tôi, những công trình biên khảo của tôi sẽ khó khăn hơn rất nhiều.
Những ý kiến riêng của anh Tô Hoài đôi khi rất bất ngờ. Trong một cuộc hội thảo, có một
diễn giả nói rất mạnh về sự thiếu khiêm tốn trong giới trí thức. Đây là một định kiến phổ biến
và tôi cũng nghĩ như vậy. Giờ nghỉ, anh Tô Hoài nói với tôi: “Lạ thật, cứ nói đến trí thức là nhấn
mạnh vào bệnh không khiêm tốn, tất cả những người trí thức tôi biết đều hết sức khiêm tốn,
không khiêm tốn làm sao có trí thức được?” Tôi thấy anh Tô Hoài có lý. Thiện cảm và ác cảm ở
anh Tô Hoài cũng rất riêng. Có một người bạn văn anh Tô Hoài quen đã hơn bốn chục năm
nhưng chưa lần nào anh đến chơi nhà, anh giải thích: “Giả dụ hôm nay tôi mời ông ấy ăn phở, y
như rằng ngày hôm sau ông ta mời bằng được trả lại ngay, những người như vậy tôi thấy rất
khó giao thiệp”.
Hoàng Ngọc Hiến
Đồng chí Hùng Vương
Tư hấp tấp chạy sang nhà chủ nhiệm Việt Minh Nông Văn Pảo. Vào một xóm lưa thưa mấy
búi mai. Đồng chí Tư qua dưới nhà đồng chí Hùng Vương [1] , nghe tiếng trang thóc rào rào
trên sân sàn, Tư ngẩng đầu gọi to:
- Kìa Hùng Vương!
Hùng Vương ngừng tay trang thóc, nhìn xuống. Hùng Vương, người nhễ nhại mồ hôi dưới
ánh nắng hanh. Đôi vai trần và tảng ngực gồ lên trong múi thịt tròn, đỏ bóng. Hùng Vương lặng
lẽ nhìn xuống, như nghĩ ngợi mà chưa tìm ra được một câu gì để nói. Đó là một cái thói quen
trầm lặng chậm chạp vốn có.
Tư rửa chân, lên nhà. Hùng Vương ngồi xuống sân và hỏi:
- Mới ở đâu về đấy?
Tư sốt ruột, hỏi lại:
- Đồng chí biết Pháp tấn công lên chợ Phủ chưa?
- Biết.
- Chợ Phủ có kịp phá hoại không?
- Phá hết rồi.
- Bấy giờ từ chợ Phủ lên và trong toàn châu chuẩn bị như thế nào?
- Đương chuẩn bị cả.
Hùng Vương vòng tay lên đầu gối, ngước mắt lên nghe cán bộ Tư hỏi từng việc: Phá châu, phá
đường cái chưa? Canh gác làm sao? Còn quân dân? Kế hoạch đối phó với tình thế mới cho các
ban Việt Minh xã? Châu bộ khai hội chưa? Mỗi câu Tư hỏi, Hùng Vương lại huơ một tay qua
đầu, trả lời:
- Không sợ. Chúng nó không thể làm gì được ta đâu.
- Đồng chí phải về châu ngay, triệu tập châu bộ thảo luận mấy ý kiến tôi đã đưa ra. Nhất là
công tác phá hoại, phá đường, phá ngay không có không kịp.
- Thế thì tốt đấy. Tôi đi ngay được.
Hùng Vương gọi con đến. Thằng bé mắt đen láy, mới độ mười hai, mười ba tuổi. Cũng cởi
trần và ngực cũng dô ra như bố. Hùng Vương dặn nó đổ nốt thóc ra sân phơi. Hùng Vương lấy
cái áo sơ mi trắng cộc tay, mặc quần soóc vàng. Hùng Vương đội mũ trắng. Cái xắc cốt da bò
quàng vào sườn bên vai trái. Con dao găm cắm trong bao da đeo sườn bên phải, cạnh túi quần
sau. Hùng Vương bước xuống cầu thang thong thả, chắc chắn.
Hùng Vương rẽ sang đường cái lớn đi lên châu.
Năm năm trước, cán bộ Đức Xuân về khai hội bí mật, đặt bí danh cho các tiểu tổ nông dân,
cũng bắt đầu từ ấy, Hứa Văn Nảo có tên bí mật là đồng chí Hùng Vương do Đức Xuân đặt cho.
Đức Xuân nói: “Hùng Vương là tên ông tổ sinh ra các họ nước ta. Đặt bí danh thế cho suốt đời
ta nhớ được tên ông tổ”. Đức Xuân ở đấy rồi về sau trúng kế của thằng phản động cai Mói, bị
giết ở Hạ Vị, sau đó thì tiếng đồn cách mệnh đã về ở núi Cứu Quốc [2] nhiều lắm, thôi thì bọn
châu Hồ, châu Quận, cai Mói ra sức lục lọi khắp các triền núi. Người ở các bản xung quanh bỏ
hết rãy ruộng, ngày đêm phải khốn khổ đi tuần phòng, mò thám. Các làng Mán bị dồn xuống ở
cả dưới chân núi. Chúng sợ các làng Mán nuôi cách mệnh ở trên núi. Nhưng cách mệnh vẫn ở
trên núi được. Cho đến một hôm giữa năm 1941, có cuộc khủng bố to, tất cả dân các bản phía
núi Tây Bắc, từ trẻ con, đàn bà đến người già mắt còn sáng, mỗi người phải đem dao đi mò các
hang, các khe, các hốc đá từ dưới chân thung lũng lên tới đỉnh ngọn Píc Cáy. Hùng Vương và
đồng chí Lâm Tuấn đã tìm cách vượt vây, từ đấy Hùng Vương bỏ vùng quê, bỏ nhà, thoát ly đi
công tác bí mật. Đến khi đảo chính Nhật, bộ đội về giải phóng xã, làm chủ nhiệm Việt Minh xã.
Sau tổng khởi nghĩa, Hùng Vương lên làm cán bộ Mặt Trận của châu.
Pháp đã lên tới chợ Phủ rồi. Các xóm bắt đầu làm vườn không nhà trống, lại như những năm
chạy Nhật trước. Bà già, trẻ con đeo túi quần áo, chăn, màn, xanh, khiêng nồi, chảo tốt vào ở
kín trong ngọn suối. Từng bu gà, bu vịt, gánh lợn cũng kĩu kịt. Làng xóm đi lặng lẽ, lạnh lẽo và bí
mật. Nhưng ngoài đồng, tiếng đập lúa thình thịch vẫn đều đều. Những đệp thóc gặt rồi phơi
vàng rượi trên các mỏm đá dọc bờ suối.
Tư ra ruộng tìm, thấy Pảo đương gặt. Tư bàn với Pảo: “Ta bàn với Việt Minh xã, với Ủy Ban về
khai hội. Tình hình nóng lắm rồi”.
Pảo lên bờ ruộng nói:
- Việt Minh cả xã, chúng nó cũng sẽ thất bại thôi, đồng chí ạ.
- Thất bại là thế nào?
- Anh em bận gặt, phải gặt nhanh.
- Thế thì tối nay khai hội ban làng vậy.
Pảo gật đầu, lại bước xuống ruộng. Xung quanh cánh đồng người lặng lẽ, bình thản khuân
từng bu gà, bu vịt, dồn lợn vào lán. Người vẫn tấp nập đập lúa, thản nhiên như chưa biết Pháp
đã tới chợ Phủ.
Cuộc khai hội ban làng tối hôm ấy lại có cả chủ tịch kháng chiến và nhiều tổ trưởng các giới
cứu quốc đến tham gia. Mười hai người ngồi vòng trước bếp lửa trước nhà. Chủ nhiệm Việt
Minh Nông Văn Pảo kê một mảnh giấy bên cạnh đống củi bập bùng cháy, viết chương trình
khai hội. Anh ngẫm nghĩ, đôi lông mày díu lại. Anh cúi xuống viết, rồi giơ giấy lên đọc: “Thưa
các đồng chí, chương trình khai hội hôm nay có: lý do, bầu chủ tịch, thư ký, thảo luận công tác
canh gác, giao thông, du kích, tiếp tế, công tác phá hoại, làm mít tinh giải thích cho xóm biết
cách đề phòng Tây.”
Bắt đầu, bàn việc canh gác… Họp đến khuya mới xong. Mọi người chuyền nhau cái điếu cày,
bàn tán về thuốc lào mấy hôm nay đắt giá. Tám mươi đồng một bánh mà không có người bán.
Chuyện khuya rồi mọi người ngủ ngay trên mặt sàn bếp lửa.
Hôm sau, Tư ra hỏi kết quả khai hội. Hai dân quân đã vác súng kíp ngồi giữa đỉnh rồi. Buổi
tối, Tư lại đến nhà Pảo. Bỗng nghe có tiếng súng xa ầm ì. Trời tối, Tư, Pảo và Eng, em trai Pảo,
ra đứng ngoài sàn ngẩng đầu lên. Tiếng ầm ì từ ngoài chợ Phủ đưa lại. Thấy xa xa phía ngoài
đường lằn lên một vạch sáng. Cách một quãng lại nổi từng hàng ánh sáng trắng như một sải vải
mới. Pảo vào nhà, rít hơi thuốc, lại ra đứng, vừa thở khói, vừa hỏi:
- Ô tô của ta hay của nó, đồng chí Tư?
Tư khẽ đáp:
- Ta không có ô tô. Mà nhiều thế kia. Ô tô của nó rồi.
- Một cái, hai cái, ba cái, bốn cái, năm cái…
Đoàn xe ấy chạy, lằn sáng cứ tuôn mãi ra. Sáu cái, bảy cái, tám cái… Sương lạnh phả vào mặt
Tư đương nóng bừng.
Tiếng Pảo nói:
- Ngày trước ô tô của Nhật nó cũng đi cả đêm thế này. Nó còn chạy bộ từng mấy trăm thằng
nữa. Lúc nào bị ta phục kích thì nó nằm im hết. Thằng Nhật gan lắm. Nó ném một quả lựu đạn
khói, mả mẹ nó, nó đã đứng vào khói và lưỡi lê trước mặt ta rồi.
- Mười bốn cái, mười lăm cái…
- Thằng Pháp này chắc là dát lắm. Cái năm mà Việt Minh xuống lập ban châu, quân cách mạng
ta bảo nó cùng bắn thằng Việt gian châu quận, nó không dám bắn. Đến lúc ta bắn thì cả lũ lính,
cả thằng đồn Tây Đờ-đông, Tây chủ mỏ cũng tái mét mặt. Pháp, thì như con cua. Thế là Tây
hàng cách mạng hết rồi.
Câu nói ấy của Pảo làm cho Tư vừa bực mình, vừa buồn cười. Nhưng sự ung dung lạ lùng ấy
thực tình khi cướp chính quyền tỉnh cũng làm cho Tư bình tĩnh trở lại từ lúc nhìn đoàn xe Pháp
chạy qua núi.
*
* *
Từ sau hôm đấy, ngày nào cũng có ô tô Pháp vù vù chạy ngoài đường cái. Dân làng đã vào các
lán. Trâu bò đuổi hết lên rừng rồi. Có một lần mười lính Pháp mò vào làng. Nhưng không lấy
được gì. Chúng nó đốt hai cái nhà.
Thế rồi một tháng qua. Pháp không thể xuyên chéo qua được tỉnh Bắc Cạn, chúng phải kéo về
chợ Phủ, bỏ vị trí huyện Chợ Rã.
Ở Pá Pầu về, Tư đương lội suối, nom xa thấy đồng chí Hùng Vương. Xắc cốt da vẫn quàng
cạnh sườn. Bao dao găm thò một tí đầu mẩu dưới thân áo sau lưng.
Hùng Vương đến bắt tay Tư, rồi nói:
- Tôi xin báo tin: Pháp đã rút khỏi châu Chợ Rã. Đồng chí đã biết chưa?
- Biết rồi.
- Mời đồng chí về nhà tôi. Tôi có vấn đề muốn thảo luận.
Cái máng nước nhà Hùng Vương lại lách rách chảy xuống chiếc bồn gỗ đầu thang. Trong nhà,
bếp chưa đặt kiềng, bên buồng còn ngổn ngang ba, bốn túi đựng quần áo mới mang ở lán về.
Thằng bé con Hùng Vương cởi trần, đắp chăn, đương ngủ ngon.
- Ta chưa nên cho người già, trẻ con và đem quần áo về nhà vội.
Hùng Vương cười, tìm chổi quét sàn, nói: “Tôi cũng chủ quan một tí đấy”.
Tư hỏi:
- Có việc gì thảo luận với tôi?
- Tôi có nhiều danh từ muốn hỏi đồng chí (Hùng Vương lấy sổ tay, bút máy trong xắc cốt),
nhiều chữ mới lắm. “Lễ Nô-en”, “Nhân dân giải phóng quân Trung Hoa”, “tài phiệt Mỹ”, “kế
hoạch Cờ-lô Cờ-lô”, “hội tề”. Từ hôm chị Bắc đi về khu, tôi có nhiều danh từ lắm mà không hỏi
được ai.
Tiếng đại bác phía chợ Phủ vẫn dội lại. Nhưng, như không nghe tiếng, hai người vẫn ngồi,
người nói, người ghi cắm cúi.
*
* *
Rồi có đến mấy tháng, lâu không gặp Hùng Vương. Nhưng thỉnh thoảng Tư vẫn nhận được
thư của Hùng Vương gửi về hỏi chữ. Biết Hùng Vương bận công tác ở xã mà vẫn chịu khó đọc
chữ. Tư đọc thư, lần nào cũng trả lời ngay.
Thỉnh thoảng, đi qua nhà Hùng Vương, gặp thằng bé con, Tư hỏi:
- Cá (bố) có về không?
Nó đáp:
- Cá không về.
Một hôm, em bé đến tìm Tư, bảo:
- Cá đã về đấy. Cá bảo đồng chí ra chơi ăn cơm ngay.
Nhưng Tư bảo nó về trước. Tư đã thuộc cái tính rềnh ràng của mọi người ở đây. Quả nhiên,
một lúc sau, Tư ra thấy mới chỉ có một mình bố Hùng Vương ở nhà. Ông ké nói:
- Hùng Vương còn đi đắp bờ ruộng.
Ngồi đợi một lúc mới thấy Hùng Vương lững thững về, quần xoe lên tận bẹn. Vai vác cái mai
đắp bờ. Chiếc xắc cốt đựng tài liệu vẫn quàng bên trái sườn. Con dao găm cắm trong bao da
đeo bên phải. Vợ Hùng Vương cũng vác mai, tay xách thêm giỏ ốc. Tư ra cầu thang, vừa cười
vừa nói:
- Đi làm ruộng mà cũng đeo xắc cốt à?
- Quân sự hóa, đồng chí ạ. Bao nhiêu năm nay thế, nó thành tính rồi.
Vợ Hùng Vương nấu nồi canh ốc cả vỏ. Con bé chạy vào lán trong rừng lấy thêm bát. Trong
khi ấy Hùng Vương cầm cái kéo ra sân sàn cạo đầu cho thằng con giai. Tiếng kéo kêu tách tách,
Hùng Vương nói:
- Sang năm nay thằng này nó nhớn một tý, tôi cho nó đi theo đồng chí. Cho nó học tập, nó
tiến bộ, về sau hơn tôi nhiều.
Một lát sau, vào mâm cơm, Hùng Vương mới thong thả nói:
- Đoàn thể vừa đổi tôi lên công tác trên Ngân Sơn, đồng chí ạ.
- Đi Ngân Sơn à? Bao giờ đi?
- Mai tôi cùng đi với Pảo. Pảo cũng công tác trên Ngân Sơn.
Ngân Sơn. Hai tháng nay Pháp chiếm Ngân Sơn, phá châu Ngân Sơn rất dữ, rất hại. Châu
Ngân Sơn, toàn rừng thưa, núi đá, đồi trọc san sát liền nhau như bát úp, n
 





